Áp lực thanh khoản được kỳ vọng hạ nhiệt vào nửa cuối năm
Tín dụng toàn hệ thống H1/2026 tăng 8,37% YTD (H1/2025: +9,9% YTD), riêng Q2/2026 tăng 5,03% QoQ. Huy động tiền gửi đã có mức hồi phục tương đối tốt trong Q2/2026 (+5,2% QoQ) trong bối cảnh mặt bằng lãi huy động neo cao. Tuy nhiên, lũy kế đầu năm tiền gửi khách hàng toàn hệ thống chỉ tăng 5,6% YTD, vẫn chậm hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đẩy tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) thuần của các ngân hàng trong danh mục theo dõi lên mức kỷ lục 114,2% (Q4/2025: 110,6%).
Trong Q2/2026, Chi phí vốn (COF) tăng thêm 60 đcb QoQ lên 4,81%, song lợi suất tài sản sinh lãi (IEAY) tăng nhanh hơn (+74 đcb QoQ, lên 7,62%) khi các khoản vay lần lượt đến kỳ điều chỉnh lãi suất, đưa biên lãi ròng (NIM) phục hồi lên 3,12% (Q1/2026: 2,95%); cùng với thu nhập dịch vụ tăng 70,0% YoY và chi phí hoạt động được kiểm soát (CIR 28,9%, Q2/2025: 31,0%), tổng lợi nhuận sau thuế (LNST) Q2/2026 của các ngân hàng trong danh mục theo dõi tăng 25,4% YoY. Lũy kế H1/2026, tổng LNST tăng 19,8% YoY.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của danh mục theo dõi gần như đi ngang so với quý trước, ở mức 2,01% tại Q2/2026 (Q1/2026: 2,00%). Tuy nhiên, nợ nhóm 2 tăng 14 đcb QoQ lên 1,38%, cao nhất trong năm quý gần nhất, trong khi bộ đệm dự phòng tiếp tục mỏng đi khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) giảm về 79,0% (-60 đcb QoQ).
Chúng tôi duy trì dự báo tăng trưởng tín dụng hệ thống năm 2026 đạt 16,0% và danh mục theo dõi đạt 16,9%, được hỗ trợ bởi nhu cầu vốn dài hạn cho các dự án trọng điểm. Thanh khoản và lãi suất huy động được kỳ vọng hạ nhiệt trong nửa cuối năm nhờ (i) giải ngân đầu tư công tăng tốc về cuối năm, (ii) NHNN nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR từ 20% lên 50%, ước tính giảm khoảng 2 đpt LDR cho nhóm NHTMNN tạo thêm dư địa cho vay và (iii) Thông tư 25/2026 nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, giảm nhu cầu huy động kỳ hạn dài. Theo đó, NIM 2026 dự kiến đạt 3,04%, NPL toàn danh mục ở mức 1,90% với LLCR về 81,9% và LNST tăng 13,5% YoY nhờ kiểm soát chi phí hoạt động.
